Thị trường nông sản ngày 23/2/2026 ghi nhận sự phân hóa rệt. Trong khi giá cà phê trên các sàn quốc tế chịu áp lực bán tháo và giảm sâu kỷ lục, các mặt hàng nội địa như hồ tiêu và sầu riêng lại duy trì đà tăng hoặc neo ở mức giá rất cao nhờ tâm lý găm hàng và lực cầu tích cực đầu năm.

Giá nông sản hôm nay 23/02/2025
Cà phê thế giới chìm trong sắc đỏ, bốc hơi hàng trăm USD
Thị trường cà phê vừa trải qua một tuần giao dịch với sóng giảm mạnh bao trùm trên cả hai sàn London và New York.
Thanh khoản sụt giảm đáng kể do nguồn cung khổng lồ từ Brazil bước vào kỳ nghỉ lễ Carnival, cùng lúc Việt Nam – quốc gia xuất khẩu robusta lớn nhất thế giới – cũng tạm ngưng giao dịch để nghỉ Tết. Kết hợp với dự báo sản lượng kỷ lục từ quốc gia Nam Mỹ, áp lực bán đã đẩy robusta vào đợt điều chỉnh mạnh nhất kể từ đầu năm 2026.
Cụ thể, trên sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 3/2026 chốt tuần ở mức 3.615 USD mỗi tấn, bốc hơi 244 USD, tương đương mức giảm 6,3%. Hợp đồng giao tháng 5/2026 cũng mất 209 USD lùi về mốc 3.591 USD mỗi tấn.
Sàn New York cũng không ngoại lệ khi arabica giao tháng 3/2026 giảm 3,9% xuống 288,3 US cent mỗi pound, và kỳ hạn tháng 5/2026 giảm 4,2% lùi về 285,7 US cent mỗi pound.
Tại thị trường nội địa, do hoạt động giao dịch đóng băng trong kỳ nghỉ lễ, giá cà phê nhân xô đi ngang quanh mức 96.400 đến 97.900 đồng mỗi kg, chưa phản ánh hết đà lao dốc của thế giới.
Đắk Nông (cũ) hiện dẫn đầu với 97.900 đồng mỗi kg, trong khi Lâm Đồng thu mua thấp nhất tại 96.400 đồng.
Hồ tiêu nội địa giữ vững vùng giá đỉnh
Trái ngược với sự ảm đạm của cà phê, giá tiêu nội địa tiếp tục duy trì vững chắc trong khoảng 148.500 đến 151.000 đồng mỗi kg. Đắk Lắk và Đắk Nông (cũ) tiếp tục là hai địa phương dẫn đầu với mức 151.000 đồng mỗi kg.
Khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) giao dịch quanh 149.000 đồng, còn Gia Lai và Đồng Nai giữ mốc 148.500 đồng mỗi kg.
Việc nông dân chưa vội bán ra khi vụ thu hoạch mới chớm bắt đầu đã hạn chế lượng hàng lưu thông, giúp mặt bằng giá duy trì ổn định và không xuất hiện áp lực giảm sâu.
Trên thị trường quốc tế, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy sự nhích lên của giá tiêu đen tại nhiều quốc gia.
Hàng xuất khẩu của Indonesia đạt 6.899 USD mỗi tấn sau khi tăng 51 USD. Đặc biệt, tiêu đen Brazil ASTA 570 vọt lên 6.125 USD mỗi tấn, tăng tới 125 USD, xua tan lo ngại về áp lực nguồn cung từ khu vực Nam Mỹ.
Giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam vẫn ổn định ở mức 6.400 đến 6.600 USD mỗi tấn đối với tiêu đen và 9.150 USD mỗi tấn đối với tiêu trắng.
Lúa gạo rục rịch khởi động, chờ nhịp tăng từ xuất khẩu
Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, thị trường lúa gạo tại khu vực ĐBSCL đang từng bước nhộn nhịp trở lại khi các doanh nghiệp, thương lái và nhà máy chế biến đồng loạt vào guồng làm việc.
Theo cập nhật từ tỉnh An Giang, giá lúa tươi đi ngang, phản ánh trạng thái cung cầu cân bằng. Lúa IR 50404 dao động trong khoảng 5.400 đến 5.500 đồng mỗi kg, OM 5451 đạt 5.800 đến 6.000 đồng, OM 4218 ở mức 6.200 đến 6.400 đồng. Các giống lúa chất lượng cao như OM 18 và Đài Thơm 8 cùng neo quanh mức 6.500 đến 6.700 đồng mỗi kg.
Ở phân khúc gạo nguyên liệu và thành phẩm, mặt bằng giá cũng giữ sự ổn định do các nhà máy đang đánh giá lại nhu cầu xuất khẩu thực tế trước khi đẩy mạnh giao dịch.
Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 ở mức 9.100 đến 9.200 đồng mỗi kg, IR 504 đạt 8.000 đến 8.100 đồng, trong khi gạo thành phẩm IR 504 duy trì vùng 9.500 đến 9.700 đồng mỗi kg.
Tại thị trường bán lẻ nội địa, giá không có biến động lớn, gạo Nàng Nhen tiếp tục giữ mức cao nhất 28.000 đồng mỗi kg, các loại gạo thơm, gạo trắng thông dụng dao động từ 14.000 đến 22.000 đồng, đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm đang dần phục hồi của người dân.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo 5% tấm của Việt Nam hiện dao động từ 360 đến 365 USD mỗi tấn, giảm nhẹ do đứt quãng giao dịch trong dịp lễ. Tuy nhiên, thanh khoản được kỳ vọng sẽ sớm cải thiện khi các hợp đồng mới được nối lại.
Cùng thời điểm, gạo Ấn Độ giữ ổn định nhờ lực mua từ châu Phi với mức giá từ 351 đến 359 USD mỗi tấn tùy loại, còn gạo Thái Lan tiếp tục neo cao quanh mốc 395 USD mỗi tấn.
Sầu riêng tăng giá, sức mua khởi sắc đầu năm
Thị trường sầu riêng đầu năm đón nhận tín hiệu vô cùng khả quan khi giá giống Ri6 đồng loạt tăng từ 3.000 đến 5.000 đồng mỗi kg tại nhiều kho thu mua.
Ghi nhận tại khu vực ĐBSCL, sầu riêng Ri6 loại A đang được thu mua phổ biến từ 82.000 đến 86.000 đồng mỗi kg, loại B từ 67.000 đến 70.000 đồng, và loại C từ 50.000 đến 52.000 đồng mỗi kg.
Ở phân khúc cao cấp hơn, sầu riêng Thái VIP tiếp tục neo ở ngưỡng đỉnh 150.000 đồng mỗi kg. Sầu Thái loại B ghi nhận mức 130.000 đồng, còn hàng lỗi dao động từ 121.000 đến 129.000 đồng mỗi kg.
Các chủng loại khác như Musang King loại A giao dịch từ 115.000 đến 120.000 đồng mỗi kg, và sầu riêng Chuồng Bò loại A chốt ở mức 70.000 đồng mỗi kg.
Heo hơi thiết lập mặt bằng giá ổn định trên toàn quốc
Sau giai đoạn sôi động phục vụ nhu cầu thực phẩm Tết, thị trường heo hơi đang bước vào nhịp điều chỉnh tự nhiên, duy trì sự bình ổn trên toàn quốc với mức giá dao động từ 70.000 đến 73.000 đồng mỗi kg.
Miền Bắc tiếp tục là khu vực neo giá cao nhất, trong đó Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên cùng chạm mốc 73.000 đồng mỗi kg. Các địa phương còn lại chủ yếu giao dịch ở mức 71.000 đến 72.000 đồng.
Tại miền Trung và Tây Nguyên, giá thu mua phổ biến từ 71.000 đến 73.000 đồng mỗi kg, với Đà Nẵng dẫn đầu toàn miền.
Khu vực miền Nam ghi nhận mức giá thấp hơn phần còn lại của cả nước, dao động từ 70.000 đến 72.000 đồng mỗi kg. An Giang, Cà Mau và Cần Thơ hiện là ba tỉnh thành có mức giá thu mua thấp nhất, đạt 70.000 đồng mỗi kg.
Cao su thế giới diễn biến trái chiều
Sàn Tocom Nhật Bản ghi nhận sự phục hồi rực rỡ khi toàn bộ các hợp đồng kỳ hạn từ tháng 3 đến tháng 7/2026 đều tăng trưởng, đẩy giá RSS3 lên ngưỡng 340 đến 356,40 JPY mỗi kg.
Ở chiều ngược lại, sàn SGX tại Singapore lại chìm trong sắc đỏ khi tất cả các kỳ hạn TSR20 đồng loạt sụt giảm nhẹ, lùi về quanh mốc 192,30 đến 193,10 Cent mỗi kg.
Tại thị trường trong nước, giá mủ cao su tiếp tục đi ngang. Công ty Cao su Bà Rịa giữ mức giá 452 đồng mỗi độ TSC cho mủ nước loại 1 và 18.000 đồng mỗi kg đối với mủ đông có độ DRC từ 50% trở lên.
Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 438 đồng mỗi TSC, trong khi Công ty Cao su Phú Riềng chốt giá mủ nước tại 440 đồng mỗi TSC và mủ tạp là 400 đồng mỗi DRC.
Giá mủ nước tại Công ty cao su Bình Long hiện kéo dài đà ngang trong khoảng 386 đến 396 đồng mỗi TSC.







